May 4, 2016

tình ơi ta hát thầm theo nhạc

Vườn Hạ,  tiếng thơ hùng tráng

 

Tô Thuỳ Yên nếu có làm thơ kiểu hào khái quắc mắt nhìn thù thì cũng không lạ. Vì trước hết, ông là người lính trận. Nhưng ở đây khác. Cái tiếng thơ hùng tráng trong thi ca. Nó giống như khí noãn dương cương tiềm phục trong những hạt giống một cách bí nhiệm bất khả giải luận. Thi ca Việt Nam cổ điển cũng có tứ văn như vậy.

Côn Sơn hữu tuyền
Kỳ thanh lãnh lãnh nhiên
Ngô dĩ vi cầm huyền
(Côn Sơn Ca - Nguyễn Trãi)

Dưới trăng quyên đã gọi hè
Đầu tường lửa lựu lập loè đơm bông
Buồng the phải buổi thong dong
Thang lan rủ bức trướng hồng tắm hoa
(Kiều - Nguyễn Du)

Giọt nước hữu tình rơi thánh thót
Con thuyền vô trạo cúi lom khom
Lâm tuyền quyến cả phồn hoa lại
Rõ khéo trời già đến dở dom
(Chùa Hương - Hồ Xuân Hương)

Thời Chiến Tranh Việt Nam, nhà thơ đi lính, làm thơ, cũng không ít. Nhưng đa số họ đều có giọng, hoặc trầm tư mặc cảm, hoặc cợt đùa kiêu bạt bất cần, thậm chí phản chiến. Lạ, và đáng tiếc. Tô Thuỳ Yên làm thơ theo lối khác. Nhất là thơ bảy chữ mà nhiều người cho là hay nhất của ông. Những vần thơ trong chiến tranh, của người lính. Người ta nói hễ mang gươm bên mình thì không thể chịu nhục. Người mang súng bảo vệ sơn hà cũng vậy, lâm trận thì chiến đấu với ý thức.

Trích thơ Tô Thuỳ Yên:

Giặc đánh lớn mùa mưa đã tới
Mùa mưa như một trận mưa liền
Châu thổ mang mang trời nước sát
Hồn chừng hiu hắt nỗi không tên
(Qua Sông - 1973)

Trường SaTrường Sa đảo chuếnh choáng
Thăm thẳm sầu vây trắng bốn bề
Lính thú mươi người lạ sóng nước
Đêm nằm còn tưởng đảo trôi đi
(Trường Sa Hành - 1974)

Lòng ta nay vẫn lòng ta trước
Vẫn chảy về con nước thuở nào
Sợi tóc mai kia dù có rụng
Ba sinh còn để nhớ cho nhau
(Mùa Hạn - tù chiến tranh, 1979)

Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cám ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ mỗi lẻ loi
(Ta Về - từ tù trở về, 1985)

Image result for small plane taking offTiếng thơ, giọng thơ hùng tráng không phải là lên gân thống mạ. Đây muốn nói đến văn khí. Hơi văn mạnh dạn trong thi ca Việt, mỗi khi quý vị đọc thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu v.v... sẽ dễ dàng nhận ra ngay. Nó là cảm hứng trong thi ca. Người làm thơ khởi đi từ một hứng cảm. Thơ còn  loan truyền cảm hứng. Hưng ư thi. Nó cũng tương tự như take off. Cảm giác kỳ lạ thú vị tại thời điểm chiếc phi cơ chạy hết tốc lực, bụp một cái, take off, bánh xe nhấc khỏi phi đạo. Mọi chuyện dường như giật mình nhẹ và đổi thay lạ kỳ.

Tô Thuỳ Yên, tiếng thơ hùng tráng hiếm thấy trong thi ca Việt Nam cận đại thời chinh chiến. Dù vui dù buồn hay cảm khái hồi niệm, hơi hướm cứng cỏỉ trong thơ của TTY rất dễ nhận ra. Như khí chất làm nên thời tiết và mùa màng. Nói như Nguyễn Du là mùa Xuân khí đầm ấm dương hoà. Nguyễn Khuyến thì  nhận ra hơi rét mướt luồn trong gió ngày mùa Đông. Hạ nồng, TTY viết:

Thấp thoáng ánh đèn rây lưới lá
Ðàn ai lên cổ khúc hoài lang
Tình ơi ta hát thầm theo nhạc
Lời nhớ lời quên dạ xốn xang
(Vườn Hạ - 1974)

.........................................................................................
Chức vụ sau cùng của TTY là thiếu tá ngành CTCT, nhưng từ khi nhập ngũ 1963 (25 tuổi), cũng có thể có khi ông phải theo chân lính ra thực địa. Ngành CTCT thời kỳ này làm nhiều việc khác nhau. Theo tôi biết, lính trợ y, lính truyền tin, lính CTCT, ngay cả mấy ông tuyên uý tôn giáo đều có thể tử vong ngoài chiến trường như chơi. Và dĩ nhiên, họ cũng được trang bị như lính tác chiến đánh nhau.

"Những ngày đầu ở trong quân đội, Tô Thùy Yên đã ở vùng đồng bằng sông Cửu Long ba năm trước khi thuyên chuyển về Cục Tâm Lý Chiến. Thời gian đó, ông đã đi xuống nông thôn Nam Bộ làm công tác biên tập, phóng sự cho Đài Phát Thanh Ba Xuyên và các công tác dân sự vụ. Ở Cục Tâm Lý Chiến, Tô Thuỳ Yên có cơ hội đến với các vùng đất xa xôi như vùng Ashau, A Lưới trong các chuyến viếng thăm tiền đồn, hay, tuy không phải là nhiệm vụ của ông, thích đi làm phóng viên ngoài mặt trận ."

Source: vuontaongo

"Nhà thơ Tô Thùy Yên tên thật Ðinh Thành Tiên, sinh năm 1938 tại Gò Vấp, Gia Ðịnh. Học tại Gia Ðịnh và Sài Gòn. Viết từ cuối thập niên 1950. Ông xuất thân khóa 17 Trường Bộ Binh Thủ Ðức. Ông đã trải qua một thời gian dài giày saut, áo trận, đã đặt chân lên hầu hết các lãnh thổ bốn vùng chiến thuật, trước khi về phục vụ tại Cục Tâm Lý Chiến. Cuộc đời một sinh viên văn chương Pháp của ông không suôn sẻ; cuộc đời binh nghiệp của ông cũng không suôn sẻ. Và sau năm 1975, lại càng không suôn sẻ. Tù "cải tạo" 13 năm. Tị nạn tại Hoa Kỳ từ 1993."

Source:  webook