Dec 26, 2013

bắc cái bùi giáng


Giai thoại hi hữu trong làng văn
Khi Bùi Giáng làm thơ Hán Việt chung với Tuệ Sỹ

Tue-si-7zThi sĩ Bùi Giáng đã kể lại chuyện nầy trong bài bình bài thơ “Không Đề” của Tuệ Sỹ. Tuệ Sỹ làm 2 câu thơ chữ Hán:

Thâm dạ phong phiêu nghiệp ảnh tùy
Hiện tiền vị liễu lạc hoa phi

Ông đem đưa cho Bùi Giáng xem và yêu cầu thi sĩ họ Bùi làm tiếp 2 câu nữa cho đủ bài tứ tuyệt. Ông Giáng không ngần ngại, làm ngay:

Phiêu bồng tâm sự tân toan lệ
Trí hải đa tàm trúc loạn ty

Đây là một bài tứ tuyệt hay. Tôi chỉ hơi nghi ngại 2 chữ ở câu cuối (trúc và ty). Phải chăng có sự ghi lại nhầm (?). Tôi dựa trên ý nghĩa của toàn câu, nay xin ghi lại như sau:

Thâm dạ phong phiêu nghiệp ảnh tùy
Hiện tiền vị liễu lạc hoa phi
Phiêu bồng tâm sự tân toan lệ
Trí hải đa tàm chúc loạn ti

深夜風飄業影隨
現前謂柳落花飛
飄蓬心事辛酸淚
智海多蠶屬亂絲

Dịch nghĩa:

Đêm khuya gió nhẹ thổi chiếc bóng (ta, vật trên màn) cũng lung lay theo
Phía trước (sân) là cây liễu, hoa rụng bay
Tâm sự lung tung (nhỏ) giọt lệ cay chua
Trí huệ biển rộng như (có) nhiều con tằm (nhả) tơ rối dính

Tôi cố gắng viết lại bản Hán văn là bởi giá trị của chính 4 câu thơ chứ không nhằm mục đích gì khác. Theo tôi, những danh sĩ VN như Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, khi làm thơ Hán văn, họ có giọng điệu VN khá rõ, 4 câu thơ trên cũng vậy. Tuy là Hán văn nhưng là Hán văn của người Viêt.

Hiện tiền vị liễu lạc hoa phi
0016002cx2d.jpg(Tuệ Sỹ)
Phiêu bồng tâm sự tân toan lệ
(Bùi Giáng)

Quý vị đọc lên và dễ dàng nhận ra giọng điệu và cú pháp quen thuộc của VN.
Do bài thơ từ chữ Quốc Ngữ, tôi suy đoán nghĩa và viết lại Hán văn, sẽ không loại trừ sự sơ xuất. Vậy, quý vị nếu có nguyên văn bản chữ Hán, xin vui lòng bổ khuyết.  (damau.org)

Bùi Giáng bình bài thơ Không Đề của Tuệ Sỹ

...........................................................................................................................


Nhà thơ Viên Linh viết trên báo Khởi Hành là trước 75 trong giới Văn nghệ đã đặt tên 4 người sau đây, theo tên các nhân vật trong Võ Lâm Ngũ Bá của Kim Dung: Phạm Công Thiện là Tây Độc, Tuệ Sỹ là Đông Tà, Thích Minh Châu là Nam Tăng, Bùi Giáng là Bắc Cái.