Oct 26, 2012

đồng thính canh kê minh

Canh gà là canh khuya gà gáy hay là tô canh thịt gà?

Theo tui, ở Hà Thành có cả 2: tiếng gà gáy sang canh hừng sáng và cả bát canh thịt gà. Tại sao không ? Hai cái này đâu có gì mâu thuẩn nhau. Vấn đề là trong tiếng Việt có vô số từ đồng âm khác biệt nghĩa. Tuy nhiên nên phân biệt, bài ca dao thơ lục bát "canh gà" chính là tiếng gà gáy sang canh.

+ Những ai từng học qua thời kỳ trung tiểu học miền Nam trước 75, về môn Việt Văn đều biết rất rành rẽ các thể loại Văn Chương Bình Dân hay Truyền Khẩu của VN. Như thành ngữ, tục ngữ, ca dao. Tui nói rành rẽ, là bởi vì thời đó lấy quyển Việt Nam Văn Học Sử Yếu của cụ Dương Quảng Hàm làm sách giáo khoa. Những định nghĩa của cụ DQH rất gãy gọn khúc chiết và rõ ràng dễ nhớ.

+ Ca là hát, dao bài hát ngắn không có chương khúc. Ca dao là bài hát ngắn lưu hành trong dân gian. Thường tả tính tình hoặc phong tục, nên cũng còn gọi là phong dao . Ca dao không rõ tác giả là ai . Ban đầu có thể do một người viết ra, sau đó dân chúng thấy thích hợp thì họ đóng góp và sửa đổi dần dà trở nên hoàn hảo và thông dụng. (Theo sách VN/VHSY)

+ Đặc tính của ca dao là như vậy. Tự nhiên, đâu ai thắc mắc phân tích tìm tòi thêm làm gì. Tìm tòi cũng được, nhưng như đã nói, cái hay của ca dao là ở chổ "tác giả cộng đồng đóng góp" thường xuyên. Từ đó, sự sửa đổi và khác nhau chút ít từng nơi từng địa phương là một hệ luận đương nhiên. Cũng chẳng ai thắc mắc tác giả làm gì, vì đặc tính dân gian truyền tụng.

Ca dao miền Bắc:
Mấy đời bánh đúc có xương
Mấy đời giặc giã nó thương dân mình

Ca dao miền Nam:
Mấy đời bánh đúc có xương
Mấy đời mẹ ghẻ mà thương con chồng

Bài ca dao "canh gà", theo tui, chỉ cần có chút lòng yêu văn thơ sẽ dễ dàng nhận ra cái hay và cái hợp lý.

Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Trấn Vũ canh gà Thọ Xương
Mịt mùng khói toả ngàn sương
Nhịp chày Yên Thái mặt gương Tây Hồ

2 câu đầu, gió (phong) đưa tiếng chuông và tiếng gà gáy canh khuya bay xa
2 câu chót, khói sương và mặt nước (thuỷ) mịt mùng lung linh trong nhịp giả mạnh và đều của chày.
Tự dưng xen vào canh gà là bát canh thịt gà thì làm sao được? Nó sẽ vi phạm luật "xứng đối", mà người Tây Phương cũng có, gọi là Parallel Structrure Writing. Nghĩa là mạch văn ý tưởng văn phạm phải liền lạc không được loạc choạc, đâm ngang.

+ Có một bài thơ bằng chữ Hán, thì canh gà lại là bát canh thịt gà. Tui thấy, bài thơ này rất tầm thường, người làm thơ vi phạm một vài lỗi lầm rất sơ đẳng của thơ cổ điển Ngũ Ngôn. Bởi vì, thơ cổ điển tuân theo luật rất chặt chẽ. Ngoài niêm, vận còn có cả bố cục tuân theo luật tương xứng - parallel. Thí dụ, đang nói về người thì không thể chen vào vật, đang nói về tình yêu thì không thể chen ngang vào hận thù v.v...

裊裊搖風竹 / 蒼蒼鎮武鐘 / 壽昌多故舊 / 同買燉雞湯
煙鎖西湖水/ 杵驚安泰鄉 / 河城斯美景 最耐客思量

Niểu niểu dao phong trúc /Thương thương Trấn Vũ chung
Thọ Xương đa cố cựu / Đồng mãi đốn kê thang
Yên tỏa Tây Hồ thủy / Chử kinh Yên Thái hương
Hà Thành tư mỹ cảnh / Tối nại khách tư lương

2 câu: Thọ Xương đa cố cựu / Đồng mãi đốn kê thang, là xoàng xĩnh nhất.
Thọ Xương nhiều chuyện (bạn) cũ / Cùng nhau đi mua bát canh gà.
Nghĩ xem, bạn đến nhà, hay đến nhà bạn, mà bấy giờ mới cùng nhau chung (tiền) đi mua canh gà về ăn (nhậu). Xoàng. Nếu nghèo quá thì ăn cơm rau, còn tệ gì thì cũng trà nước, cá gà đãi bạn hiền. Đó là lẽ thường. Và thơ văn.  

Lý Ốc tui sẽ "chỉnh" lại bài thơ chữ Hán trên, theo tinh thần ca dao tập thể, như sau :

裊裊搖風竹 / 蒼蒼鎮武鐘
 壽昌多故友 / 同聴更雞鳴
煙鎖西湖水 / 杵驚安泰鄉
河城斯美景 / 最耐客思量

Niểu niểu dao phong trúc / Thương thương Trấn Vũ chung
Thọ Xương đa cố hữu  / Đồng thính canh kê minh
Yên tỏa Tây Hồ thủy / Chử kinh Yên Thái hương
Hà Thành tư mỹ cảnh / Tối nại khách tư lương

Canh gà là tui gáy muốn chết đây nè è é e ...e

Dịch nghĩa:

Gió lay cành trúc phất phơ /Tiếng chuông Trấn Vũ xa xa
Ở Thọ Xương có nhiều bạn cũ / Cùng (chuyện trò suốt đêm) nghe tiếng gà gáy hừng sáng sang canh.
Khói sương vây bủa mặt nước hồ Tây / Nhịp chày kinh động làng Yên Thái
Cảnh đẹp của Hà Thành/ Khiến khách nhớ nhung nhất.

Nguồn gốc bài thơ chữ Hán bát canh gà
VN Văn Học Sử Yếu, Dương Quảng Hàm ; Bìa Sách VN/VHSY
.............................................

十 二時辰制
西周時就已使用。漢代命名為夜半、雞鳴、平旦、日出、食時、隅中、日中、日昳、晡時、日入、黃昏、人定。又用十二地支來表示,以夜半二十三點至一點為子時,一至三點為丑時,三至五點為寅時,依次遞推。   

12 thời giờ trong ngày

Giờ Tí: Dạ bán, nửa đêm 23 - 1
Giờ Sữu: Kê minh, gà gáy 1-3
Giờ Dần: Bình đán, hừng đông 3-5
Giờ Mẹo: Nhật xuất, mặt trời mọc 5-7
Giờ Thìn: Thực thời, giờ ăn 7-9
Giờ Tị: Ngung trung, trong ruộng 9-11
Giờ Ngọ: Nhật trung, đứng bóng 11- 13
Giờ Mùi: Nhật điệt, xế chiều 13-15
Giờ Thân: Bộ thời, ăn chiều 15-17
Giờ Dậu: Nhật nhập, mặt trời lặn 17-19
Giờ Tuất: Hoàng hôn, chạng vạng 19-21
Giờ Hợi: Nhân định, nghỉ ngơi 21-23

Cách gọi tên 12 giờ trong ngày [baike.baidu.com]

Khác với người Trung Hoa, người Việt Nam chia thời khắc riêng phù hợp với thói quen và phong thổ của mình . Đêm 5 canh, ngày 6 khắc . Cách chia này có chổ trùng với TH, có chổ hơi khác một chút. Vì người Bách Việt vốn là tổ tiên của Nông Lịch và Kinh Dịch, nên trong tâm thức họ còn theo cha ông. 5 canh thì biết, còn 6 khắc không rõ như thế nào. Tự Điển Thiều Chửu giải thích vắn tắt.

刻 khắc (8n)
1 : Khắc, lấy dao chạm trổ vào cái gì gọi là khắc.
2 : Thời khắc, ngày xưa dùng cái gáo đồng, giữa châm một lỗ để nước dần dần rỏ xuống, để định thời giờ, gọi là khắc lậu 刻漏. Theo đồng hồ bây giờ định cứ mười lăm phút là một khắc, bốn khắc là một giờ.
3 : Ngay tức thì. Như lập khắc 立刻 lập tức.

Như vậy, khác với TH, tính tròn con số 12 giờ chia đều cho 24 giờ hiện nay . Người Việt ngày xưa dùng số lẽ và số chẳn hợp nhau. Nhứt Âm nhứt Dương chi vị Đạo. Đêm thì 5 canh (âm), ngày 6 khắc (dương).
Cách tính giờ thì theo mặt trời. Tính tháng thì theo nguyệt lệnh mặt trăng. Dùng đồng hồ nước để tính. Và dùng trống điểm để báo giờ. Sự tích gần nhứt còn ghi lại là trong bài Dạ Cổ Hoài Lang của cổ nhạc Nam Phần. Đêm nghe tiếng trống điểm canh mà nhớ chàng.

Dạ Cổ Hoài Lang